Pages

Subscribe:

Ads 468x60px

Featured Posts

Monday, 11 June 2018

Loạt dự án thua lỗ của Vinachem: "È cổ" trả vài trăm tỷ tiền lãi vay đầu tư mỗi năm

Trong 3 năm tới (2018-2020), hầu hết các dự án nghìn tỷ thua lỗ của Vinachem đều phải lo gáng "gánh nặng" chi phí tài chính rất lớn, trong đó chủ yếu là cho khoản lãi vay đầu tư.

Từ 2018 - 2020, mỗi năm Đạm Hà Bắc phải trả 767,45 tỷ đồng tiền lãi vay đầu tư.
Từ 2018 - 2020, mỗi năm Đạm Hà Bắc phải trả 767,45 tỷ đồng tiền lãi vay đầu tư.
"È cổ" gánh nặng chi phí lãi vay
Tập đoàn Hoá chất Việt Nam (Vinachem) vừa có báo cáo về phương án sản xuất kinh doanh trong 3 năm tới (2018-2020) đối với 4 dự án hoạt động kém hiệu quả thuộc Tập đoàn.
Trong số 12 dự án có vốn đầu tư nghìn tỷ thua lỗ của ngành công thương thì Vinachem chiếm tới 4 dự án, bao gồm: Đạm Ninh Bình, Đạm Hà Bắc, DAP - Vinachem, DAP số 2 - Vinachem.
Đáng lưu ý, phần kế hoạch các chỉ tiêu chủ yếu trong 3 năm tới (2018-2020) cho thấy, hầu hết các dự án này đều phải lo gáng "gánh nặng" chi phí tài chính rất lớn, trong đó chủ yếu là cho khoản lãi vay đầu tư.
Cụ thể, tại dự án phân đạm và hoá chất Hà Bắc, nếu tính gộp cả 3 năm thì khoản tổng số lãi vay đầu tư phải trả là 2.302,3 tỷ đồng, bình quân mỗi năm phải trả 767,45 tỷ đồng.
Tại dự án Đạm Ninh Bình, theo kế hoạch tổng cả 3 năm sẽ phải trả 1.112 tỷ đồng, trong đó năm 2018 phải trả 491 tỷ đồng, năm 2019 là 368 tỷ đồng và năm 2019 là 253 tỷ đồng.
Còn tại DAP số 2 Lào Cai, khoản lãi vay đầu tư phải trả cho năm 2018 là 269 tỷ đồng, 275 tỷ đồng (năm 2019) và 272 tỷ đồng (năm 2020).
Chi phí lãi vay đầu tư phải trả trong 3 năm tới của 4 dự án. Đơn vị: Tỷ đồng.
Chi phí lãi vay đầu tư phải trả trong 3 năm tới của 4 dự án. Đơn vị: Tỷ đồng.
Riêng tại dự án DAP - Vinachem, Công ty sẽ chỉ phải trả 9 tỷ đồng lãi vay đầu tư cho năm 2018. Kể từ năm 2019 trở đi, doanh nghiệp sẽ thoát khỏi "gánh nặng" về chi phí lãi vay đầu tư. Đây cũng là điểm sáng nhất trong số các dự án nghìn tỷ của Vinachem khi báo lãi trong năm 2017 và dự kiến tiếp tục lãi trong các năm tiếp theo.
Một loạt kiến nghị gỡ khó
Để giúp các dự án nói trên bớt khó khăn và hoạt động hiệu quả hơn, Tập đoàn Hoá chất đề nghị Bộ Công Thương giải quyết, tiếp tục hỗ trợ và đề xuất Chính phủ, các bộ ban ngành giải quyết một số kiến nghị, trong đó đặc biệt là vấn đề về tín dụng.
Cụ thể, Vinachem đã kiến nghị xem xét, quyết định các giải pháp đối với khoản vay Ngân hàng Phát triển Việt Nam của dự án nhà máy Đạm Ninh Bình, nhà máy Đạm Hà Bắc và DAP số Lào Cai như sau:
Kéo dài thời hạn vay của các hợp đồng tín dụng thành 20 năm (trong đó công ty DAP số 2 từ 10 năm thành 20 năm; Công ty Đạm Hà Bắc từ 12 năm thành 20 năm; Công ty Đạm Ninh Bình từ 15 năm thành 20 năm); thu nợ gốc trước, thu nợ lãi sau, không tính lãi quá hạn kể từ khi phát sinh.
Đồng thời cho phép cân đối trả nợ gốc, lãi theo dòng tiền thực tế và theo tỷ lệ số dư nợ vốn trung, dài hạn của các Ngân hàng tài trợ vốn cho dự án, lãi vay chưa trả được cân đối trả nợ vào các năm sau.
Ngoài ra, Tập đoàn cũng kiến nghị được hỗ trợ điều chỉnh lãi suất tiền vay như sau: Trong 5 năm từ 2018 đến 2022 lãi suất 3%/năm. Từ năm 2023 trở đi các khoản vay có lãi suất trên 8,55%/năm điều chỉnh cề mức lãi suất tín dụng đầu tư của Nhà nước (Tại thời điểm hiện nay là 8,55%/năm).
Nợ lãi chưa trả đến 31/12/2017 được trả dần trong 5 năm tiếp theo từ 2018 đến 2020. Khoanh nợ gốc và không tính lãi khoản vay của Ngân hàng Phát triển Việt Nam cho dự án Đạm Ninh Bình trong thời gian 5 năm tới (2028-2022).
Vinachem cũng mong muốn được hỗ trợ đối với các khoản vay các ngân hàng thương mại.
Cụ thể, tại dự án Đạm Hà Bắc, Vinachem kiến nghị VietinBank và các ngân hàng đồng tài trợ (ngân hàng ACB, Ngân hàng Indovina, Ngân hàng Cathay) giảm lãi suất tiền vay bằng USD từ 6%/năm về 4,5%/năm và cho phép được cơ cấu thời hạn trả nợ lãi, cân đối lãi theo dòng tiền thực tế và theo tỷ lệ số dư nợ vay của các ngân hàng tài trợ vốn vay, lãi vay chưa trả được cân đối trả nợ vào các năm sau, không tính lãi quá hạn.
Còn tại dự án DAP số 2, Vinachem kiến nghị VietinBank kéo dài thời hạn vay từ 12 năm thành 20 năm, giảm lãi suất tiền vay từ 9,5%/năm xuống 8,55%/năm, thu nợ gốc trước, thu nợ lãi sau, không tính lãi quá hạn.
Tương tự đối với dự án đạm Ninh Bình, Vinachem cũng kiến nghị VietinBank kéo dài thời hạn vay từ 12 năm thành 20 năm, giảm lãi suất, thu nợ gốc trước, thu nợ lãi sau, không tính lãi quá hạn… Đồng thời xem xét cho Công ty Đạm Ninh Bình vay gói tín dụng riêng 120 tỷ đồng để sửa chữa, củng cố máy móc thiết bị.
Tập đoàn Vinachem cũng kiến nghị Bộ Công Thương cho phép tập đoàn xem xét thực hiện việc khoanh nợ không tính lãi phát sinh, cơ cấu lại các khoản nợ của Công ty Đạm Ninh Bình đối với Tập đoàn trong 3 năm (2018-2020).
Năm 2017, cả 4 dự án nói trên đều đã khắc phục được phần nào khó khăn, giảm và cắt lỗ. Các dự án giảm được lỗ như Đạm Ninh Bình lỗ 933 tỷ đồng, giảm gần 200 tỷ đồng so với năm 2016. Đạm Hà Bắc lỗ 602 tỷ đồng, giảm 449 tỷ đồng, DAP số 2 lỗ 530 tỷ đồng, giảm 376 tỷ đồng. Riêng DAP - Vinachem báo lãi 15 tỷ đồng.
Nếu các kiến nghị được giải quyết, đồng thời với việc cơ cấu lại sản xuất, Vinachem khẳng định các dự án nói trên đều sẽ có kết quả sản xuất kinh doanh sáng sủa hơn rất nhiều. Cụ thể sẽ có 2 đơn vị DAP là Công ty CP DAP - Vinachem và Công ty CP DAP số 2 - Vinachem có kết quả có lãi, 2 đơn vị còn lại Phân Đạm Hà Bắc và Đạm Binh Bình vẫn lỗ nhưng khoản lỗ sẽ được giảm đi rất nhiều.
Nguyễn Khánh

Nợ hơn 38.000 tỷ đồng, Vinachem vẫn “rút” hàng trăm tỷ cho Đạm Ninh Bình vay

Trong bối cảnh thua lỗ, nợ nần chồng chất, trong năm vừa qua, Vinachem vẫn rót thêm hàng trăm tỷ đồng cho dự án Đạm Ninh Bình, chủ yếu là cho vay lại (lãi suất 6,5%/năm) để dự án này trả nợ ngân hàng.

Lỗ luỹ kế gần 2.000 tỷ đồng
Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2017 của Tập đoàn Hoá chất Việt Nam (Vinachem) vừa công bố cho hay, đến 31/12/2017, nợ phải trả của “ông lớn” hoá chất đã lên tới 38.061,1 tỷ đồng, tăng gần 492 tỷ đồng so với cuối năm 2016.
Trong đó, nợ ngắn hạn lên tới 20.112,8 tỷ đồng, tăng 1.750 tỷ đồng. Như vậy, nợ ngắn hạn của Vinachem đã suýt soát với tài sản ngắn hạn (là 21.756 tỷ đồng).
Dự án Đạm Ninh Bình trở thành gánh nặng lớn đối với Vinachem
Dự án Đạm Ninh Bình trở thành gánh nặng lớn đối với Vinachem
Theo thuyết minh báo cáo tài chính, khoản phải trả từ 1 năm trở xuống của Vinachem là 18.107 tỷ đồng. Đáng lo ngại là khoản vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn đã tăng lên 11.437,7 tỷ đồng.
Mặc dù vậy, lãnh đạo Vinachem vẫn đánh giá, mức độ tập trung rủi ro đối với việc trả nợ của tập đoàn này là có thể kiểm soát được. “Công ty có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn từ dòng tiền hoạt động kinh doanh và tiền thu từ các tài sản tài chính đáo hạn”, phía Vinachem quả quyết.
Trong khi đó, trong năm vừa qua, các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh của tập đoàn này lại đều đi xuống. Doanh thu giảm 6% chỉ còn 5,6 tỷ đồng, trong khi đó giá vốn hàng bán đã là 5,9 tỷ đồng khiến lợi nhuận gộp bị âm.
Doanh thu tài chính là mảng mang về nguồn thu lớn nhất cho Vinachem, nhưng đã sụt giảm rất mạnh hơn 60% so với cùng kỳ, còn 983 tỷ đồng. Tuy nhiên, chừng đó cũng không đủ bù chi phí tài chính 967,5 tỷ đồng và chi phí quản lý doanh nghiệp 305 tỷ đồng (tăng gấp đôi năm 2016), dẫn đến lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh bị âm 289,8 tỷ đồng.
Trên bản báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của Vinachem không ghi nhận chi phí bán hàng và chi phí lãi vay của doanh nghiệp.
Khoản lợi nhuận khác không đáng kể, chỉ gần 2,2 tỷ đồng. Chính vì vậy, kết quả Vinachem vẫn ghi nhận lỗ 287,6 tỷ đồng trong năm vừa qua. Mức lỗ này đã “bồi” thêm khoản lỗ luỹ kế đến cuối 2017 của Vinachem lên mức 1.968 tỷ đồng.
Cả chục hợp đồng cho Đạm Ninh Bình vay ký trong năm 2017
Trong bối cảnh thua lỗ, nợ nần như vậy, trong năm vừa qua, Vinachem đã phải rót thêm hàng trăm tỷ đồng cho dự án Đạm Ninh Bình, chủ yếu là cho vay lại (lãi suất 6,5%/năm) để dự án này trả nợ ngân hàng. Dư nợ ngắn hạn của Đạm Ninh Bình tại Vinachem đến cuối năm ngoái đã nâng lên 2.598 tỷ đồng, tăng hơn 850 tỷ đồng so với năm 2016.
Trong khi đó, nhiều khoản vay trị giá hàng chục tỷ đồng từ năm 2016 vẫn chưa thanh toán, hai bên đã phải ký phụ lục để gia hạn, chuyển sang năm 2017, nhưng đến hết năm 2017 số nợ gốc vẫn còn nguyên.
Ví dụ khoản cho vay 120 tỷ đồng để Đạm Ninh Bình bổ sung vốn lưu động thực hiện tháng 2/2016 đã phải ký phụ lục đến 31/12/2017 là đáo hạn, nhưng số dư khoản vay này đến cuối 2017 vẫn y nguyên 120 tỷ đồng. Một khoản cho vay khác có cùng mục đích, trị giá 30 tỷ đồng thực hiện tháng 3/2016 và được gia hạn đến 31/8/2017, nhưng đến 31/12/2017 vẫn chưa trả được đồng nợ gốc nào.
Thống kê trong báo cáo tài chính thể hiện có đến 15 hợp đồng các khoản cho vay ngắn hạn của Vinachem đối với dự án Đạm Ninh Bình đã được ký trong năm 2017.
Ngoài ra, tập đoàn này còn có 10 hợp đồng cho vay dài hạn của Vinachem với Đạm Ninh Bình đến hạn thanh toán trong năm 2017. Trong đó có những khoản rất lớn như khoản vay hơn 568 tỷ đồng ký hồi tháng 9/2015, khoản vay 366 tỷ đồng ký hồi tháng 8/2015, khoản vay 248 tỷ đồng ký hồi tháng 2/2016…
Nợ dài hạn của Đạm Ninh Bình với Vinachem trong năm ngoái giảm 441 tỷ đồng, nhưng dư nợ vẫn rất lớn, lên tới 6.726,5 tỷ đồng.
Theo ghi nhận của Vinachem, tại dự án này, tập đoàn này có 625,8 tỷ đồng khoản phải thu cho vay bị xếp vào diện “nợ khó đòi” và khả năng chỉ thu hồi được 367,5 tỷ đồng trong số này.
Vừa qua, liên quan đến xử lý vi phạm tại Vinachem (đặc biệt là tại dự án Đạm Ninh Bình), Ủy ban Kiểm tra Trung ương, kỳ họp thứ 17 đã ra thông báo đề nghị Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật với ông Nguyễn Anh Dũng, Chủ tịch tập đoàn này.
Đề nghị kỷ luật cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng với ông Nguyễn Quốc Tuấn, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch HĐQT Tổng công ty, nguyên Chủ tịch HĐTV Vinachem; kỷ luật cảnh cáo với các ông Đỗ Quang Chiêu, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch HĐQT, Tổng công ty và ông Đỗ Duy Phi, nguyên Phó Bí thư Đảng ủy, nguyên Tổng giám đốc Vinachem.
Bộ Công Thương đã có văn bản khẳng định “sẽ nghiêm túc thực hiện” các chỉ đạo của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và các cấp có thẩm quyền đối với vấn đề ngày.
Ngày 19/6 tới đây, Tổ kiểm tra giám sát của Thanh tra Chính phủ gồm 3 thành viên cũng sẽ làm việc với Vinachem trong 10 ngày về việc triển khai kết luận thanh tra liên quan đến việc sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại tập đoàn này.
Bích Diệp

Friday, 1 June 2018

Sau 30 năm, cuối cùng thì Agribank cũng đã công khai tài chính!

Là một trong những “ông lớn” của ngành ngân hàng, tuổi đời tròn 30 năm, thương hiệu phủ khắp cả nước, đặc biệt là tại khu vực nông thôn, thế nhưng tình hình tài chính của Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn (Agribank) lại luôn là một “ẩn số”.
Hoạt động theo hình thức Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, Agribank phải công bố thông tin hoạt động theo quy định tại Nghị định số 81 năm 2015 của Chính phủ, hiệu lực thi hành từ 5/11/2015.
Tuy nhiên, phải mất tới 2 năm rưỡi, nay ngân hàng này mới thực hiện nghĩa vụ nói trên. Với vốn điều lệ 30.354,5 tỷ đồng (gấp hơn 10 lần so với vốn tối thiểu quy định), Agribank đang có 1 trụ sở chính, 3 văn phòng đại diện, 1 chi nhánh ở Campuchia, 3 đơn vị sự nghiệp, 158 chi nhánh loại 1, 784 chi nhánh loại 2 và 1.290 phòng giao dịch đặt tại các tỉnh, thành phố trên cả nước.
Mỗi tháng, bình quân Agribank chi 25,5 triệu đồng cho 1 nhân viên
Mỗi tháng, bình quân Agribank chi 25,5 triệu đồng cho 1 nhân viên
Theo báo cáo của Agribank, trong năm vừa qua, ngân hàng mẹ đạt 34.115,3 tỷ đồng thu nhập lãi thuần, tăng 19,7% so với năm 2016.
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng mạnh 36,6% so với 2016 lên 23.580,6 tỷ đồng.
Tuy nhiên, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng chiếm tỉ trọng lớn, lên tới 18.514,3 tỷ đồng (tăng gần 42%) nên tổng lợi nhuận trước thuế của ngân hàng mẹ Agribank chỉ còn 5.066,3 tỷ đồng (tăng hơn 20% so với năm trước). Lợi nhuận sau thuế cả năm đạt 4.060,6 tỷ đồng, tăng gần 20%.
Chi phí dự phòng của Agribank tăng mạnh trong bối cảnh tín dụng trong năm qua của ngân hàng này tăng tới 17,6%. Tổng nợ xấu năm qua đã tăng lên 18.000,3 tỷ đồng, tăng 16,3% so với năm 2016. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn là 11.052,4 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ hơn 2%, không mấy thay đổi so với 2016.
Trong khi đó, tăng trưởng tiền gửi của khách hàng tại Agribank trong năm 2017 đạt 16,4%. Số dư tiền gửi đến cuối năm ngoái ở mức 1.007,85 tỷ đồng.
(Đơn vị: Tỷ đồng - nguồn: BCTC riêng của Agribank)
(Đơn vị: Tỷ đồng - nguồn: BCTC riêng của Agribank)
Trong năm 2017, Agribank đã tăng chi phí cho nhân viên lên 11.195,3 tỷ đồng, tăng khoảng 1.000 tỷ đồng so với năm 2016.
Với tổng số nhân viên là 36.571 người trong năm 2017 (tăng 668 người trong vòng 1 năm), chi phí bình quân cho nhân viên của Agribank là 25,5 triệu đồng/người/tháng. Trong đó, chi lương và phụ cấp ở mức 9.719,6 tỷ đồng, tính bình quân, nhân viên Agribank đạt mức thu nhập bình quân 22,1 triệu đồng/người/tháng.
Nêu ý kiến về báo cáo tài chính của Agribank, đơn vị kiểm toán E&Y đã nhấn mạnh đến các nghĩa vụ tiềm ẩn khác của ngân hàng này.
Theo đó, tại ngày lập báo cáo tài chính, một số vụ kiện liên quan đến sai phạm của cán bộ ngân hàng trong việc phát hành các chứng thư bảo lãnh đang trong quá trình điều tra, xét xử và chưa có phán quyết cuối cùng của toà án. Theo đó, trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên liên quan chỉ được xác định khi vụ án đã được xét xử, có tuyên án cụ thể và bản án có hiệu lực.
Bích Diệp

Thursday, 10 May 2018

Giới đầu tư ở các thị trường mới nổi đang quên những bài học đau thương từ quá khứ?

Giới đầu tư ở các thị trường mới nổi đang quên những bài học đau thương từ quá khứ?

Đừng quên những gì đã xảy ra khi thanh khoản toàn cầu thắt chặt lần gần nhất.

Nếu cần tìm kiếm những ví dụ về niềm tin chiến thắng vượt qua kinh nghiệm thực tế thì không đâu xa, hãy tìm hiểu về các nền kinh tế mới nổi.
Ngay cả khi Cục Dự trữ Liên bang thắt chặt chính sách tiền tệ của Mỹ thì cả nhà đầu tư lẫn các nhà hoạch định chính sách của các nền kinh tế này dường như đều phớt lờ khả năng sụp đổ. Họ bám lấy hy vọng rằng bằng cách nào đó tác động của việc thắt chặt thanh khoản toàn cầu lần này sẽ tạo ra ít tác động hơn những lần trước.
Các dấu hiệu cho thấy quan điểm tích cực của các nhà đầu tư về thị trường mới nổi. Lãi suất chênh lệch của trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường và trái phiếu chính phủ Mỹ ở gần mức thấp kỷ lục. Dù ngày càng được nới rộng ra nhưng nợ phát sinh của thị trường mới nổi vẫn còn thấp theo các tiêu chuẩn trong quá khứ. Trong khi đó, các nhà đầu tư tiếp tục theo dõi các vấn đề nợ bằng tín dụng tại thị trường mới nổi còn yếu như Iraq, Kenya, Mông Cổ và Tajikistan.
Các nhà hoạch định chính sách thị trường mới nổi dường như đang chuẩn bị đề phòng cho những trường hợp khó khăn. Thay vì dùng thời điểm thuận lợi để giảm mức nợ của chính phủ, họ tiếp tục tận dụng các điều kiện thanh khoản toàn cầu để khai thác thị trường. Quỹ Tiền tệ Quốc tế ước tính rằng sự tương quan giữa các mức nợ của thị trường mới nổi và GDP của họ hiện đã đạt đến mức tương đương với cuộc khủng hoảng nợ thị trường mới nổi những năm 1980.
Đồng thời, các nhà hoạch định chính sách thị trường mới nổi đã không kiểm soát các khoản vay lớn mà các công ty của họ thực hiện. Số nợ của các công ty đã tăng gấp 3 lần kể từ năm 2008.
Những lần thắt chặt chính sách tiền tệ của Fed cũng gây khó dễ cho các nền kinh tế mới nổi. Lãi suất tăng ở Mỹ thường dẫn đến việc thu hồi vốn đầu tư tại các thị trường mới nổi. Đổi lại, sự dừng đột ngột trong dòng vốn có thể gây ra căng thẳng cho thị trường tài chính và các cán cân thanh toán nội tệ sẽ tạo áp lực đối với những nền kinh tế thị trường mới nổi.
Bỏ qua những kinh nghiệm của họ với chu kỳ thắt chặt thanh khoản toàn cầu trước đây, cả nhà đầu tư và nhà hoạch định chính sách thị trường mới nổi dường như đang hy vọng về các nguyên tắc cơ bản của thị trường mới nổi sẽ hiệu quả hơn. Có lẽ họ đang trông chờ vào các thị trường này đàn hồi tốt hơn để thích ứng với việc giảm thanh khoản toàn cầu.
Tuy nhiên, khi làm như vậy, các nhà đầu tư và các nhà hoạch định chính sách lại đang "nhắm mắt làm ngơ", không chỉ với nợ nước ngoài và nợ công ty ở mức cao, mà còn là sự mất cân bằng và thách thức chính trị ở một số nền kinh tế thị trường mới nổi lớn nhất. Có vẻ họ cũng không biết gì về vai trò rất lớn của các thị trường mới nổi với xếp hạng tín dụng thấp như Brazil và Thổ Nhĩ Kỳ - trong giai đoạn vay mượn.
Một số vấn đề lớn mà các nhà đầu tư thị trường mới nổi đang bỏ qua:
Các khoản tài chính công của Brazil vẫn đang bất ổn kể từ cuộc bầu cử tổng thống gây tranh cãi ở tháng 10 năm ngoái.
Trung Quốc đang trải qua bong bóng tín dụng lớn nhất lịch sử ngay cả khi họ có nguy cơ rơi vào cuộc chiến tranh thương mại với Mỹ.
Thổ Nhĩ Kỳ có thể phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tiền tệ quy mô toàn diện khi Tổng thống Erdogan sốt sắng báo cáo về nền kinh tế trước cuộc bầu cử quốc hội sắp tới.
Rất có thể Fed sẽ sớm phải tăng lãi suất nhanh hơn dự kiến để nền kinh tế Mỹ không tăng trưởng quá "nóng". Nếu Fed thực hiện sớm hơn, không lâu nữa nhà đầu tư sẽ biết được liệu thị trường mới nổi có phát triển tích cực hơn với thanh khoản toàn cầu được thắt chặt hơn so với trước đây hay không.
Theo CafeF

Giải mã nguyên nhân khiến tiền bị rút mạnh khỏi các thị trường mới nổi

Giải mã nguyên nhân khiến tiền bị rút mạnh khỏi các thị trường mới nổi

Có phải các nhà đầu tư đã bắt đầu cảm thấy quan ngại rủi ro và thận trọng hơn đối với các thị trường chứng khoán mới nổi? Hay có những yếu tố nào đang chi phối quyết định của các nhà đầu tư thế giới khiến họ phải điều chỉnh chiến lược phân bổ vốn toàn cầu của mình?


Kể từ sau khủng hoảng tài chính 2008, chính sách nới lỏng tiền tệ của các nước phát triển – bao gồm cả Mỹ, EU và Nhật Bản – đã khiến cho dòng vốn khổng lồ đổ vào các thị trường chứng khoán mới nổi. Nhà đầu tư khắp thế giới sẵn sàng chấp nhận rủi ro để tìm kiếm lợi nhuận ở các thị trường nhỏ như Pakistan, Banglades hay Việt Nam. Chẳng hạn, KSE – chỉ số chứng khoán chính của Pakistan – đã tăng hơn 8 lần so với mức đáy sau khủng hoảng. Đây là mức tăng vượt trội so với hầu hết các thị trường lớn trên thế giới.
Tuy nhiên gầy đây xu hướng này đang chững lại. Các dấu hiệu cho thấy dòng vốn đã bắt đầu tháo chạy khỏi các thị trường cận biên và mới nổi. Theo số liệu của Viện Tài chính Quốc tế, dòng tiền rút ra khỏi các tài sản tài chính ở các thị trường này bao gồm cả cổ phiếu và trái phiếu.
Đặc biệt, cổ phiếu của các thị trường mới nổi ghi nhận  0,5 tỷ USD bj rút ròng ra khỏi các thị trường mới nổi trong tháng 3 vừa qua. Châu Á là nơi có lượng rút vốn nhiều nhất, lên tới 7,8 tỷ USD cũng trong tháng 3 .
Có phải các nhà đầu tư đã bắt đầu cảm thấy quan ngại rủi ro và thận trọng hơn đối với các thị trường chứng khoán mới nổi? Hay có những yếu tố nào đang chi phối quyết định của các nhà đầu tư thế giới khiến họ phải điều chỉnh chiến lược phân bổ vốn toàn cầu của mình?
Chính sách tiền tệ không còn nới lỏng ở các nền kinh tế chủ chốt
Tháng 3 vừa qua, Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã nâng lãi suất cơ bản đồng USD thêm 0,25 điểm phần trăm, lên mức 1,5 – 1,75%. Đây là lần nâng lãi suất thứ năm kể từ sau khủng hoảng. Bắt đầu từ tháng 12/2016, lãi suất cơ bản đồng USD mà các ngân hàng vay từ Fed đã tăng từ mức 0,25 – 0,5% lên mức hiện nay.
Động lực của việc gia tăng lãi suất đến từ niềm tin của Fed vào sự phục hồi kinh tế của Mỹ cũng như nền kinh tế thế giới có nhiều dấu hiệu khởi sắc kể từ sau khủng hoảng. Thậm chí, Ủy ban thị trường mở liên bang nước này (FOMC) dự kiến tiếp tục có thêm các đợt nâng lãi suất nữa để đạt tới 3,4% vào năm 2020.
Một số ngân hàng trung ương châu Âu cũng có các động thái tương tự. Duy chỉ có Nhật Bản vẫn duy trì lãi suất ở mức âm trong suốt nhiều năm qua bởi triển vọng yếu kém của nền kinh tế nước này.
Lãi suất tăng khiến cho chi phí sử dụng vốn bằng đồng USD trở nên đắt đỏ hơn. Nhà đầu tư ở các nước này trở nên cân nhắc hơn khi rót vốn vào các thị trường mới nổi, vốn có những đồng tiền bản địa chứa nhiều rủi ro biến động và lạm phát.
Thời gian gần đây, dòng tiền nhạy cảm đã bắt đầu rút ra khỏi các thị trường mới nổi, để đầu tư hoặc gửi tiết kiệm bằng USD cũng như các đồng tiền mạnh khác. Khi lãi suất tiếp tục tăng tới một mức độ nhất định, lượng vốn đổ vào Mỹ hoặc châu Âu sẽ tăng lên nhanh chóng, cùng với đó là sự rút vốn ròng khỏi các thị trường mới nổi.
Dầu mỏ và các hàng hóa cơ bản tăng giá mạnh mẽ
Giá dầu thô WTI hiện đã lên tới hơn 71 USD/thùng, mức cao nhất kể từ 2014. Động lực khiến giá dầu tăng mạnh đến từ (1) Thỏa thuận cắt giảm sản lượng của các thành viên OPEC và Nga nhằm phục hồi giá dầu, (2) Khủng hoảng kinh tế trầm trọng ở Venezuela vốn là một nước xuất khẩu dầu mỏ lớn ở Nam Mỹ và (3) Mỹ rút khỏi thỏa thuận Iran theo đó miễn trừ các biện pháp trừng phạt Iran để nước này chấm dứt nghiên cứu vũ khí hạt nhân.
Cùng với giá dầu, loạt hàng hóa cơ bản cũng tăng giá trong những tháng gần đây như sắt thép, nông sản khiến cho chi phí sản xuất công nghiệp tăng mạnh làm giảm biên lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất.
Đồng thời, giá cả hàng hóa tăng thu hút một lượng tiền rút khỏi thị trường chứng khoán để đầu cơ tích trữ kiếm lời từ thị trường hàng hóa. Điều này cũng gây ra tác động tiêu cực tới dòng vốn trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là các thị trường chứng khoán mới nổi.
Biến động kinh tế chính trị
Không chỉ căng thẳng thương mại Mỹ - Trung gia tăng có tác động tới các thị trường chứng khoán. Các vấn đề của Mỹ với một số nước Trung Đông như Syria hay Iran cũng khiến cho nhà đầu tư lo sợ.
Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch gia tăng làm ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu. Những doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng với Trung Quốc sẽ bị tác động mạnh mẽ nếu Mỹ tiếp tục áp dụng các biên pháp trừng phạt hoặc từ chối nhập khẩu các mặt hàng sản xuất từ Trung Quốc. Ở chiều ngược lại, nền kinh tế Mỹ cũng chịu tổn thất đáng kể nếu muốn chuyển một số hoạt động sản xuất về nước mình hoặc về các nước tham gia đối tác song phương với Mỹ. Chi phí sản xuất sẽ gia tăng đáng kể bởi hầu hết công nghệ sản xuất cần phải được đầu tư lại từ đầu.
Bất ổn chính trị Trung Đông ngoài việc kéo theo nhiều nước tham chiến (Nga hoặc một số nước châu Âu), cũng sẽ khiến tâm lý hoang mang bao trùm các thị trường chứng khoán. Nhất là sau cả thập kỷ tăng trưởng trên toàn thế giới, hầu hết nhà đầu tư đều cho rằng thời kỳ điều chỉnh xuất hiện là một điều không thể tránh khỏi.
Triển vọng màu xám cho các thị trường mới nổi
Ngoài một số ít nhà đầu tư tin rằng cơ hội vẫn còn ở các thị trường cận biên và mới nổi, hầu hết nhà đầu tư đã bắt đầu rút vốn ồ ạt khỏi các quốc gia này.
Sau nhiều năm nhận được dòng vốn lớn từ bên ngoài với lượng dự trữ ngoại hối tăng trưởng nhanh chóng, các thị trường nhỏ như Việt Nam hay Bangladesh đang hứng chịu lượng vốn ròng rút ra ngày càng tăng. Có vẻ xu hướng này vẫn chưa dừng lại trong ngắn hạn.
Điều duy nhất mà nhà đầu tư nội địa tại các quốc gia mới nổi cần trông đợi lúc này đó là, các nhà điều hành của họ có đủ tỉnh táo và bản lĩnh để ứng phó kịp thời với động thái của dòng tiền đầu tư gián tiếp. Kinh nghiệm có được trong quá trình phục hồi nền kinh tế sau khủng hoảng, cùng với những bài học từ các nước Đông Á trong cuộc khủng hoảng 1997 – 1998 có thể giúp ích trong việc đưa ra quyết sách của những quốc gia này trong giai đoạn hiện nay.
Nguồn CafeF

Tuesday, 16 January 2018

Từ làm phụ hồ, chàng trai thu về hơn 2 tỷ một năm nhờ ý tưởng khác biệt

Đôi khi ý tưởng kinh doanh đến rất bất ngờ, vấn đề ở chỗ ta có nắm bắt kịp thời được hay không. Cũng nhờ khả năng ấy mà nhân vật chính trong bài có thể tạm biệt công việc lao động tay chân của mình.

James Grear, 20 tuổi, và Henry bạn mình chỉ kiếm được 275.000 đồng/giờ khi làm phụ hồ ở một công trường tại Bristol. Chính vì thế hai chàng trai quyết định cùng nhau kinh doanh. Vấn đề ở chỗ, họ không hề có ý tưởng nào.
James Grear quản lý công việc kinh doanh đồng xu của mình từ chính phòng ngủ
James Grear quản lý công việc kinh doanh đồng xu của mình từ chính phòng ngủ
Rồi một ngày, trong khi đang mua bữa trưa, James phát hiện trong phần tiền lẻ trả lại có một đồng 50 pence rất lạ. Cậu quyết định kiểm tra đồng xu bán được bao nhiêu tiền trên eBay và bất ngờ phát hiện đồng xu hiếm hoi này được bán với giá gấp 8 lần giá trị thực. Đấy cũng  là lúc hai người bạn nhận thấy cơ hội của mình. Cả hai mở một gian hàng trực tuyến trên trang eBay có tên The Coin Supplier.
Đồng 50 pence đã tạo cảm hứng cho James mở gian hàng bán xu trực tuyến trên eBay.
Đồng 50 pence đã tạo cảm hứng cho James mở gian hàng bán xu trực tuyến trên eBay
Trong vòng hai năm, hai người bạn đã biến ý tưởng này thành công việc kinh doanh mang lại doanh thu hàng năm từ 1,5 đến 2 tỷ đồng.

Nhưng đó không phải một câu chuyện dễ dàng.

Thời gian đầu, cặp đôi gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu thập đủ tiền xu để sàng lọc được những đồng xu hiếm. Họ bị giới hạn bởi hạn mức rút không quá 3 triệu đồng xu lẻ mỗi ngày từ các ngân hàng, và cũng không có nhiều tiền mặt để hỗ trợ cho công việc kinh doanh.
Chàng trai 20 tuổi sống ở Bristol thực hiện khoảng 600 đơn đặt hàng tiền xu mỗi năm
Chàng trai 20 tuổi sống ở Bristol thực hiện khoảng 600 đơn đặt hàng tiền xu mỗi năm
Các chàng trai phải làm việc rất vất vả để có được hợp đồng với các nhà cung cấp, và sau hai tháng, họ quyết định nghỉ việc để tập trung vào công việc bán đồng xu toàn bộ thời gian.

Giờ đây James, 20 tuổi, đang tự mình điều hành công việc kinh doanh từ phòng ngủ trong căn hộ cậu ở cùng với bạn, trong khi nhà đồng sáng lập là Henry đã rời Anh để du lịch khắp thế giới.

Trong năm 2018, James hy vọng có thể chuyển công việc kinh doanh từ phòng ngủ đến một văn phòng rộng rãi. Nhưng không giống hàng nghìn người ở khắp nước Anh, James không có hứng thú với việc sưu tầm đồng xu, cậu làm thế chỉ để mưu sinh mà thôi.
Theo Hậu Dương (Theo The Sun) (Dân Việt)

Bãi bỏ hàng loạt điều kiện về kinh doanh xăng dầu

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Nghị định số 08/2018/NĐ-CP nhằm sửa đổi một số Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.

Theo đó, 675 điều kiện đầu tư kinh doanh được cắt giảm theo quy định tại Nghị định số 08/2018/NĐ-CP thuộc 08 lĩnh vực: Xăng dầu, thuốc lá, điện lực, nhượng quyền thương mại, thương mại điện tử, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, lĩnh vực kinh doanh thực phẩm thuộc quản lý chuyên ngành của Bộ Công Thương. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày ký 15/1.

Đối với lĩnh vực xăng dầu, Chính phủ bãi bỏ một số điều, khoản của Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu.

Cụ thể, bãi bỏ Điều 5 (quy hoạch phát triển hệ thống kinh doanh xăng dầu); khoản 6 Điều 7 (điều kiện đối với thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, bỏ điều kiện phù hợp với quy hoạch thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu); Điều 10 (điều kiện sản xuất xăng dầu); khoản 1 Điều 24 (điều kiện đối với cửa hàng bán lẻ xăng dầu, bỏ điều kiện địa điểm phải phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt).

Bỏ khoản 5 Điều 41: “Cơ sở kinh doanh xăng dầu hiện có chưa phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải thực hiện lộ trình nâng cấp, bảo đảm phù hợp quy hoạch theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch đó”.

Bên cạnh đó, bãi bỏ một số nội dung tại Điều 7 về điều kiện đối với thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu.

Cụ thể, Chính phủ bãi bỏ quy định: “Sau ba 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, phải sở hữu hoặc đồng sở hữu với số vốn góp tối thiểu 51% đối với hệ thống kho, đủ đáp ứng tối thiểu 1/3 nhu cầu dự trữ của thương nhân quy định tại khoản 1 Điều 31 Nghị định này”;

Bãi bỏ nội dung tại khoản 4: “Sau 2 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, phải sở hữu hoặc đồng sở hữu với số vốn góp tối thiểu 51% đối với các phương tiện vận tải xăng dầu nội địa có tổng sức chứa tối thiểu là 3.000 m3”;

Bãi bỏ nội dung tại khoản 5: “Mỗi năm, kể từ khi được cấp Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, phải sở hữu hoặc sở hữu và đồng sở hữu tối thiểu 4 cửa hàng bán lẻ xăng dầu, cho đến khi đạt tối thiểu 100 cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc hệ thống phân phối của thương nhân”.
Theo Diệu Thùy (Infonet)
 
Blogger Templates