Pages

Subscribe:

Wednesday, 23 December 2015

Người Việt có mang đôla sang Lào gửi?

Do gửi USD không được hưởng lãi suất, lượng kiều hối của Việt kiều gửi về cho người thân có thể sẽ chậm lại.

Sau gần một tuần Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hạ lãi suất tiền gửi USD từ 0,25% về mức 0%, một số ngân hàng thương mại cho biết nhiều người đã bán USD lấy VND gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, cũng có ngân hàng thừa nhận một dòng tiền chảy vào các kênh đầu tư khác (bất động sản, chứng khoán, vàng…) sinh lời hơn.

Câu hỏi được đặt ra là khi lãi suất USD bằng 0%, liệu người dân có mang tiền ra nước ngoài gửi? Các ngân hàng thương mại vẫn đang cho doanh nghiệp (DN) vay bằng USD, vậy nếu không huy động được thì lấy gì để cho vay?...

Nhu cầu đồng đôla tăng 

Theo ông Đặng Quốc Tiến, chuyên gia tài chính ngân hàng, việc hạ lãi suất đồng USD về 0% sẽ khiến người dân có thể bán đôla cho ngân hàng nhiều hơn, dự trữ ngoại hối sẽ tăng. Nhưng hiện nay các DN xuất nhập khẩu vẫn buộc phải vay USD để thanh toán với đối tác nước ngoài, đặc biệt dịp cuối năm nhu cầu này tăng mạnh.

Trên nguyên tắc ngân hàng phải cân đối giữa huy động và cho vay, huy động được thì mới có tiền để cho vay.

“Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất cho vay, đồng nghĩa với việc huy động USD tại Mỹ cũng tăng trong khi đó lãi suất tiền gửi USD tại Việt Nam bằng 0%. Còn trên thị trường tự do tại Việt Nam, giá USD vẫn giao dịch ở ngưỡng cao (có thời điểm gần ngưỡng 22.900 VND/USD - PV).

Trong bối cảnh trên, liệu ngân hàng có huy động được ngoại tệ? Nếu ngân hàng không huy động được hoặc huy động được ít thì làm sao đáp ứng được nhu cầu của DN?”- ông Tiến băn khoăn.

Đặt vấn đề giả sử nếu người dân đồng loạt rút USD quá nhiều ra khỏi ngân hàng do không được hưởng lãi suất, trong khi ngân hàng vẫn tiếp tục phải cho vay thì điều gì sẽ xảy ra? TS Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính ngân hàng, cho rằng lúc này ngân hàng sẽ gặp khó khăn về thanh khoản ngoại tệ.

Việc hạ lãi suất đồng USD về 0% sẽ khiến người dân có thể bán đôla cho ngân hàng nhiều hơn. Ảnh: Trần Việt
Việc hạ lãi suất đồng USD về 0% sẽ khiến người dân có thể bán đôla cho ngân hàng nhiều hơn. Ảnh: Trần Việt

“Tuy vậy, sau khi NHNN hạ lãi suất đồng USD bằng 0% đến nay tôi thấy chưa có hiện tượng rút đôla ồ ạt. Thực tế với người dân bình thường có thể bán USD ra lấy VND gửi tiết kiệm. Với những người còn găm giữ ngoại tệ đến giờ có thể là họ đầu cơ chờ kiếm lợi” - ông Hiếu nhìn nhận trấn an.

Chẳng hạn gửi 100.000 USD với lãi suất 0,25%/tháng cho kỳ hạn 12 tháng (sau thời gian này sẽ nhận về 250 USD, tương đương 20 USD/tháng). Nay lãi suất bằng 0% nghĩa là họ mất đi 20 USD/tháng cũng không lớn. Trong khi với những người đầu cơ, họ sẽ chờ đôla trên thị trường tự do tăng giá bán ra có lời hơn.

“Cho nên dù lãi suất USD về 0% họ vẫn sẵn sàng chấp nhận chịu thiệt hại trước mắt và giữ lại USD. Chính điều này khiến việc huy động ngoại tệ trong ngân hàng chưa bị ảnh hưởng nhiều” - ông Hiếu phân tích.

Lo ngoại tệ chảy ra nước ngoài

“Việc đưa lãi suất đôla bằng 0% có mặt lợi là làm giảm tình trạng găm giữ USD. Cung cầu ngoại tệ trên thị trường sẽ cân bằng hơn nhờ dòng ngoại tệ chảy ra thị trường nhiều hơn” - TS Hiếu nhận định.
Tuy nhiên, theo ông Hiếu, trước đây lãi suất USD tại Việt Nam cao nên nhiều Việt kiều gửi tiền về cho người thân để hưởng lãi suất, nay dòng tiền này có thể sẽ về Việt Nam chậm lại do không có lãi suất.

Bên cạnh đó, thời gian gần đây có ý kiến cho rằng với lãi suất USD bằng 0% thì người dân, DN Việt có thể sẽ tìm cách đem ngoại tệ gửi tại các ngân hàng Việt Nam có chi nhánh ở các nước. Thậm chí có người còn tính toán rằng nếu gửi ở các ngân hàng Việt Nam tại Lào sẽ được hưởng lãi tới 6%, trong khi nếu gửi trong nước không được hưởng đồng lãi nào.

Về vấn đề này, TS Nguyễn Trí Hiếu nhận định rất khó để thực hiện được điều này, vì NHNN có những quy định chặt chẽ trong quản lý ngoại hối. Chẳng hạn, việc chuyển tiền đôla đi nước ngoài chỉ được thực hiện trong các trường hợp như chuyển tiền cho con đi học, khám chữa bệnh…

“Trong trường hợp nếu gửi tiền ra nước ngoài được, khi rút ra mang về nước thế nào cũng là chuyện không dễ, cho nên không quá lo ngại vấn đề này” - ông Hiếu trấn an.

Khó tránh khỏi áp lực tỉ giá

Diễn biến trên thị trường những ngày qua cho thấy dù NHNN đã hạ lãi suất tiền gửi USD về mức 0% nhằm hạn chế tâm lý găm giữ USD và ổn định thị trường, song tỉ giá tại các ngân hàng vẫn đứng ở mức kịch trần.

Ví dụ ngày hôm qua (23-12), tại các ngân hàng thương mại, giá USD bán ra vẫn neo ở mức kịch trần 22.547 VND/USD.

Bên cạnh đó, tâm lý găm giữ đồng bạc xanh vẫn còn, vì nhiều người sợ nếu đổi USD sang VND, sau đó cần giao dịch lại không đổi được. Điều này đang gây áp lực mạnh lên vấn đề tỉ giá.

Thêm nữa đồng USD đang mạnh lên, nhu cầu ngoại tệ của người dân, DN tăng cao vào thời điểm cuối năm, đồng nhân dân tệ liên tục mất giá… đang ngày càng gia tăng áp lực lên tỉ giá.

Kiều hối về TP.HCM vẫn tăng

Qua theo dõi hoạt động của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP.HCM thời gian gần đây cho thấy cung cầu USD trên thị trường không có dấu hiệu tăng đột biến. Số lượng ngoại tệ mua vào có tăng lên, kiều hối về vẫn tăng.

Dự kiến năm 2015 lượng kiều hối về TP.HCM ước đạt khoảng 5,5 tỉ USD, tăng 10% so với năm 2014. Con số này cũng cao hơn so với mức dự kiến ban đầu là 5,2 tỉ USD.

Ông NGUYỄN HOÀNG MINH, Phó Giám đốc NHNN Chi nhánh TP.HCM 

Theo tính toán của một số chuyên gia, hiện nay người nắm giữ VND vẫn lợi hơn so với đôla vì lãi suất chênh lệch lớn. Ví dụ, nếu gửi USD không được hưởng lãi thì gửi VND ở các kỳ hạn dài lãi suất lên đến 7%.

Tài sản ngân hàng cổ phần “bốc hơi” 14.000 tỷ chỉ trong 1 tháng

Tổng tài sản của toàn hệ thống tổ chức tín dụng trong tháng 10 đã giảm 3,4 nghìn tỷ đồng; trong đó, riêng khối ngân hàng TMCP giảm 14 nghìn tỷ.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa công bố số liệu thống kê về một số chỉ tiêu cơ bản trong hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) đến cuối tháng 10/2015. Theo đó, tổng tài sản của toàn hệ thống bất ngờ giảm chỉ còn 6,865 triệu tỷ đồng.

Trong đó, cả khối ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước và cổ phần đều sụt giảm.

Cụ thể, NHTM Nhà nước giảm từ 3,2 triệu tỷ đồng từ cuối tháng 9 xuống còn gần 3,1 triệu tỷ đồng đến cuối tháng 10; còn NHTM cổ phần giảm từ 2,734 triệu tỷ đồng xuống còn 2,719 triệu tỷ đồng.

Kết quả tổng tài sản sụt giảm với NHTM Nhà nước là do đã tách Ngân hàng chính sách xã hội đã tách ra khỏi nhóm. Nếu cộng cả tổng tài sản của Ngân hàng chính sách xã hội là 146.391 tỷ đồng thì tổng tài sản của nhóm ngân hàng này là hơn 3,2 triệu tỷ đồng, tăng nhẹ so với tháng 9.


Tài sản của các ngân hàng “bốc hơi” 14.000 tỷ chỉ trong 1 tháng
Tài sản của các ngân hàng “bốc hơi” 14.000 tỷ chỉ trong 1 tháng

Tuy nhiên, so với đầu năm, tổng tài sản của toàn hệ thống đã tăng thêm 350,16 nghìn tỷ đồng (tương đương tăng 5,37%).Trong đó, các NHTM cổ phần Nhà nước tăng với tỷ lệ 8,9%, đạt 3,087 triệu tỷ đồng. Tổng tài sản có của các ngân hàng TMCP đạt 2,72 triệu tỷ đồng, tăng nhẹ 1,17% so với đầu năm. Tỷ lệ tăng mạnh nhất là các công ty tài chính, cho thuê tài chính với tổng tài sản có tăng 21,84% lên 83,7 nghìn tỷ đồng.

Dẫu vậy, vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng có tăng lên từ 456,734 tỷ đồng cuối tháng 9 lên 457,410 tỷ đồng vào cuối tháng 10. Tuy nhiên, vốn điều lệ của NHTM Nhà nước đã giảm từ 147.754 tỷ đồng cuối tháng 9 xuống còn 137.059 tỷ đồng vào cuối tháng 10.

Tại bảng công bố này, NHNN đã bất ngờ thay đổi cách công bố kết quả thống kê một số chỉ tiêu cơ bản về hoạt động của hệ thống các TCTD đến 31/10. Theo đó, thay vì công bố hệ số ROA, ROE theo tháng thì NHNN chuyển thành công bố theo quý.

Với sự thay đổi này, nhóm NHTM Nhà nước gồm 7 ngân hàng là Agribank, Vietcombank, VietinBank, BIDV, Ngân hàng Xây dựng, OceanBank, GPBank.

Sự thay đổi này đã cho kết quả khác, đó là, tổng tài sản và tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của hệ thống ngân hàng bất ngờ sụt giảm.

Theo đó, CAR của hệ thống các TCTD từ 13,32% trong tháng 9 xuống còn 13,14%, trong đó, cả NHTM Nhà nước và NHTM cổ phần đều sụt giảm. Cụ thể, với NHTM quốc doanh giảm từ 9,28% cuối tháng 9 xuống còn 9,25% vào cuối tháng 10, còn NHTM cổ phần giảm từ 13,31% xuống còn 12,99%.

Một chỉ tiêu khác được thị trường quan tâm, đó là sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Theo đó, tỷ lệ này đã tăng nhẹ từ 28,48% từ cuối tháng 9 lên tỷ lệ 29,39%; trong đó, NHTM Nhà nước tăng từ 29,7% lên 31,75%, tuy nhiên, NHTM cổ phần lại giảm từ 35,84% xuống còn 34,93%.

Một sự thay đổi nữa trong việc công bố chỉ tiêu hoạt động của các TCTD, đó là thay vì công bố hệ số ROA, ROE theo tháng như những tháng trước thì cuối tháng 10 này, NHNN lại công bố chỉ số theo quý.

Theo đó, trong quý III/2015, hệ số ROA của hệ thống là 0,44%, tăng nhẹ so với cuối tháng 9 là 0,32%. Trong đó, NHTM Nhà nước là 0,46%, NHTM cổ phần 0,32%.

Hệ số ROE quý III/2015 là 4,95%, tăng so với 3,54%; trong đó NHTM Nhà nước là 7,27%, NHTM cổ phần là 3,74%.

Sunday, 8 November 2015

Nam A Bank – Thương hiệu hàng đầu Việt Nam 2015

Với định hướng trở thành một trong những ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam, qua quá trình 23 năm hình thành và phát triển, Nam A Bank đã và đang không ngừng nỗ lực khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng.

Qua quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam (2007-2015), đặc biệt, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans Pacific Partnership-TPP), cộng đồng kinh tế ASEAN cho thấy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là yếu tố đóng vai trò quyết định, đòi hỏi doanh nghiệp phải cần có chiến lược kinh doanh với tầm nhìn trung hạn và dài hạn dựa trên nghiên cứu và dự báo thị trường.

Giải thưởng “Thương hiệu hàng đầu - TOP Brands 2015” do Viện nghiên cứu kinh tế, Trung tâm nghiên cứu Người tiêu dùng Việt Nam, tổ chức Global GTA (Vương quốc Anh) phối hợp xét duyệt và trao tặng, dưới sự giám sát chất lượng chặt chẽ của tổ chức InterConformity (Đức). Đây là hoạt động để ghi nhận bằng chứng khách quan về sự nỗ lực của doanh nghiệp trong hoạt động quản lý, cải tiến chất lượng liên tục, phát huy năng lực nội sinh, phát triển giá trị thương hiệu, xứng đáng là những thương hiệu hàng đầu mà khách hàng, đối tác lựa chọn.

Ban tổ chức cho biết giải thưởng được xét duyệt dựa trên nhiều tiêu chí: bản sắc và các vấn đề liên quan đến thương hiệu; khả năng nhận biết và tính phổ biến của nhãn hiệu; sự tín nhiệm, tin tưởng và tôn trọng đối với nhãn hiệu từ cộng đồng xã hội; lợi nhuận, sự ảnh hưởng và tăng trưởng…

Với định hướng trở thành một trong những ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam, qua quá trình 23 năm hình thành và phát triển, Nam A Bank đã và đang không ngừng nỗ lực khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Nam A Bank tập trung phát triển các sản phẩm, dịch vụ trên nền công nghệ hiện đại nhằm tăng cường các tiện ích và dịch vụ cho khách hàng; ưu tiên quyền lợi của người tiêu dùng; mở rộng hoạt động trên nhiều lĩnh vực để phát triển bền vững.

Chính vì những nỗ lực to lớn đó, Nam A Bank đảm bảo các yếu tố trong việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thông qua việc xây dựng các quy trình quản lý chất lượng và từng ngày nâng cao vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường trong nước và thế giới.

Cận cảnh giải thưởng “Nam A Bank Thương hiệu hàng đầu - TOP Brands 2015”
Cận cảnh giải thưởng “Nam A Bank Thương hiệu hàng đầu - TOP Brands 2015”
 
Do đó, vào sáng ngày 31/10/2015, Nam A Bank đã vinh dự đón nhận giải thưởng "Thương hiệu hàng đầu - Top Brands 2015” do Viện nghiên cứu kinh tế, Trung tâm nghiên cứu Người tiêu dùng Việt Nam, tổ chức Global GTA (Vương quốc Anh) tổ chức và trao tặng.

Ngoài giải thưởng trên, để ghi nhận những nỗ lực của ngân hàng trong giai đoạn vừa qua, Nam A Bank đã vinh dự đạt được nhiều giải thưởng quý giá khác như “Huân chương Lao động hạng Ba”, “Thương hiệu mạnh”, “Top 500 Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất”, “Thương hiệu vàng”, ... Đó cũng là những thành tích góp phần khẳng định thương hiệu Nam A Bank ngày càng lớn mạnh trên thị trường.

Thoái vốn khỏi Vinamilk, FPT: "Vội vàng sẽ khó có giá tốt!"

Theo TS Nguyễn Đức Thành, để giá hấp dẫn phải thoái từ từ theo yêu cầu của thị trường đồng thời lượng cung vốn thoái không quá lớn để giá thị trường không bị xuống sâu.

(Ảnh minh hoạ).
(Ảnh minh hoạ).
 
Thoái từ từ để không mất giá

Trao đổi về việc Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) sẽ tiến hành thoái vốn nhà nước tại 10 doanh nghiệp lớn bao gồm những “tên tuổi” như Vinamilk, FPT, TS Nguyễn Đức Thành - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) cho rằng, việc Nhà nước thoái vốn khỏi các doanh nghiệp thương mại, sản xuất hàng tiêu dùng là cần thiết nhưng vấn đề cần quan tâm là giá.

Theo TS Thành, để giá hấp dẫn phải thoái từ từ theo yêu cầu của thị trường đồng thời lượng cung vốn thoái không quá lớn để giá thị trường không bị xuống sâu. Điều này không phụ thuộc vào Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân hay nước ngoài mà người sở hữu, họ có quyền lợi bảo vệ vốn.

"Hiện tôi cảm thấy tư tưởng đúng nếu như thoái vốn ồ ạt mà không đếm xỉa đến giá chúng ta sẽ rơi vào dễ dãi trong thực hiện tư tưởng”, ông Thành nói.

Với việc thoái vốn Nhà nước khỏi Vinamilk, ông Thành cho rằng, đây có thể là cơ hội để tái phân phối cho cán bộ nhân viên đặc biệt người lao động trong doanh nghiệp. Do đó, nên có sự phân bổ cổ phiếu cho cán bộ nhân viên giá ưu đãi như với các doanh nghiệp nhà nước khác.

Đánh giá về động thái này, chuyên gia phân tích của HSBC cho rằng: "Chính phủ đã thông báo rằng họ đã chỉ đạo Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) thực hiện việc thoái vốn Nhà nước tại 10 doanh nghiệp đã được niêm yết là một thông tin tốt".

Mặc dù thời hạn cho việc thoái vốn chưa rõ ràng, nhưng HSBC cho rằng việc tập trung nỗ lực cải tổ doanh nghiệp nhà nước chú trọng chất lượng hơn số lượng là một bước đi đúng hướng. Cuối cùng, quyết định của Chính phủ để đẩy nhanh tiến độ thoái vốn có thể sẽ gắn với vấn đề tài chính khi ước tính có thể mang về 4 tỷ USD cho ngân sách Chính phủ.

Sẽ hút nhà đầu tư đa quốc gia

Dưới góc độ một nhà đầu tư nước ngoài, tại buổi họp báo diễn ra mới đây tại Bangkok, Thái Lan, ông Aree Chavalitcheewingul, Phó chủ tịch Tập đoàn Hoàng gia Thái Lan (SCG) cho biết, việc Chính phủ Việt Nam đã đồng ý nới room cho nhà đầu tư nước ngoài cũng như lên kế hoạch thoái vốn tại 10 doanh nghiệp nhà nước thực sự là các thông tin tốt với nhà đầu tư nước ngoài.

"Trong danh sách 10 doanh nghiệp nhà nước mà Chính phủ quyết định sẽ thoái vốn có hai công ty mà SCG đang nắm cổ phần là Nhựa Thiếu niên Tiền Phong và Nhựa Bình Minh. Không chỉ có các tin tốt về việc nới room và thoái vốn, Việt Nam cũng đã kết thúc đàm phán TPP nên cơ hội đầu tư của SCG tại Việt Nam cũng như nhiều nhà đầu tư khác khi có TPP là rất lớn", ông Chavalitcheewingul nói.

Ông Chavalitcheewingul cho rằng, những doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam rất quan tâm đến việc có thể nâng tỷ lệ sở hữu, nắm giữ cổ phần của doanh nghiệp tại Việt Nam lên trên 50% để có thể chuyển giao những công nghệ, giải pháp sáng tạo mà không lo ngại gặp rủi ro nào khác (từ các đối tác nắm giữ cổ phần khác).

"Với các tín hiệu trên, SCG đang cân nhắc các khả năng tiếp tục đầu tư vào Việt Nam", ông nói.

Tuy nhiên, về góc độ này, chuyên gia Kinh tế trưởng khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Ngân hàng ANZ, ông Glenn Maguire cho rằng, trong quá trình cổ phần hóa, mối quan tâm được đặt ra hàng đầu chính là sự công bằng và đối xử bình đẳng. Đặc biệt trong một nền kinh tế phát triển nhanh và đa dạng như Việt Nam, việc thâu tóm được những món cổ phần này mang lại rất nhiều lợi ích.

Theo ông Glenn Maguire, cổ phần hoá, tư nhân hóa luôn là vấn đề mà hầu hết các quốc gia Châu Á phải đương đầu. Việt Nam đang thâm nhập vào một trong những chuỗi cung ứng phức tạp nhất thế giới, cùng tương tác với Hàn Quốc, Mỹ, Úc, Trung Quốc, nhiều tập đoàn đa quốc gia chắc chắn sẽ quan tâm tới cổ phần doanh nghiệp nhà nước để chen chân được vào chuỗi cung ứng quốc tế.

TS Nguyễn Đức Thành cũng cho rằng: "Với các nhà đầu tư, cần có sự mở rộng bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Còn về nghiệp vụ, SCIC, người đại diện vốn Nhà nước phải làm sao để có giá tốt trên cơ sở không tỏ ra hấp tấp, vội vàng, cuống quýt”.

Ngân hàng lớn nhập cuộc tăng lãi suất huy động

Sau một loạt các ngân hàng thương mại cổ phần vừa và nhỏ đua tăng lãi suất huy động VND, thị trường đã đón nhận sự nhập cuộc của một ngân hàng lớn trong khối ngân hàng thương mại Nhà nước.

Theo biểu lãi suất niêm yết trên trang web của Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBank), kể từ hôm nay 6/11, lãi suất huy động VND tại ngân hàng này tăng thêm từ 0,2 - 0,5%/năm, tập trung ở các kỳ hạn ngắn.

Cụ thể, lãi suất huy động kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 2 tháng được ngân hàng áp dụng đối khách hàng cá nhân là 4,8%/năm; từ 2 tháng đến dưới 3 tháng là 5%/năm.

Đặc biệt, để tạo sự linh hoạt cho người gửi tiền, ngân hàng này chia nhỏ các kỳ hạn, ví dụ như kỳ hạn từ 3 đến dưới 6 tháng có lãi suất 5,2%; lãi suất kỳ hạn 6 đến dưới 9 tháng ở mức 5,5%/năm; kỳ hạn 9 đến dưới 10 tháng có lãi suất 5,6%/năm…

Ở kỳ hạn trên 36 tháng, VietinBank áp mức cao nhất là 7%/năm.


Một mặt bằng lãi suất huy động mới đang hình thành (ảnh minh hoạ).
Một mặt bằng lãi suất huy động mới đang hình thành (ảnh minh hoạ).

Với điều chỉnh trên, trần lãi suất huy động VND của VietinBank đã tăng đáng kể, cũng như tạo khoảng cách cạnh tranh hơn so với các ngân hàng lớn khác trong khối ngân hàng thương mại Nhà nước như: Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV).

Ví dụ như với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 2 tháng tại Vietcombank và BIDV hiện tương ứng chỉ từ 4 - 4,7%/năm; hay kỳ hạn trên 36 tháng tại hai ngân hàng này tương đương mức 6,2% và 6,3%/năm. Trong khi tại VietinBank, kỳ hạn trên 36 tháng đã lên tới 7%/năm.

Trước đó, khảo sát thị trường ngân hàng chiều 30/10 cho thấy, một mặt bằng lãi suất huy động mới đang hình thành, với sự tham gia của nhiều ngân hàng và biên độ tăng lãi suất cũng mạnh hơn.

Trong đó, trong vòng chưa đầy 1 tuần, Ngân hàng Bản Việt (Viet Capital Bank) tiếp tục điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi với mức cộng thêm 0,2%/năm.

Cụ thể, lãi suất tiền gửi thông thường, lĩnh lãi cuối kỳ, loại tiền VND được điều chỉnh tăng ở các kỳ hạn 3 tháng, 4 tháng và 5 tháng, với lãi suất mới là 5,4% (lãi suất cũ là 5,2%). Bên cạnh đó, sản phẩm tiền gửi kỳ hạn ngày, kỳ hạn 91 ngày cũng tăng lãi suất lên mức 5,4%/năm.

Một số ngân hàng như: DongABank, Sacombank, Techcombank, LienVietPostBank… cũng đã nâng lãi suất tiền gửi thêm từ 0,2 - 0,5%/năm. Không chỉ điều chỉnh lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, kỳ hạn dài trên 12 tháng cũng được nhiều ngân hàng nhỏ áp dụng ở mức 7,3 - 7,4 %/năm, cao hơn các ngân hàng lớn khoảng 1%/năm.

Cùng với việc điều chỉnh tăng lãi suất huy động, nhiều ngân hàng còn rầm rộ tung ra thị trường nhiều chương trình khuyến mãi bằng cách tặng quà, tặng lãi suất, rút thăm trúng thưởng…

Hiện các ngân hàng như: Bac A Bank, VietCapital Bank, NCB, TPBank … là những ngân hàng niêm yết biểu lãi suất cao nhất trên thị trường hiện nay.

Do khát vốn vào dịp cuối năm và để tạo dựng niềm tin với khách hàng, những ngân hàng bị mua với giá 0 đồng, hay những ngân hàng bị kiểm soát đặc biệt cũng đã đẩy lãi suất lên mức cao và luôn nằm trong top 5 các ngân hàng có mức lãi suất hấp dẫn nhất hiện nay.

Với những động thái tăng lãi suất của các ngân hàng thời gian gần đây, thị trường (về phía người đi gửi tiền) kỳ vọng sẽ có một đợt điều chỉnh tăng trên diện rộng hơn, với sự nhập cuộc mạnh mẽ của các ngân hàng lớn. Tuy nhiên, với những cá nhân hoặc doanh nghiệp đi vay vốn lại lo ngại giá vốn sẽ tăng khi lãi suất đầu vào được các ngân hàng điều chỉnh tăng.

Đánh giá về xu hướng lãi suất trong thời gian tới, HSBC cho rằng, lạm phát thấp và triển vọng thuận lợi đối với giá cả năng lượng toàn cầu sẽ cho phép Ngân hàng Nhà nước (NHNN) giữ lãi suất ổn định.

“Nhưng một khi áp lực giá cả tăng lên trong năm tới, chúng tôi cho rằng NHNN có thể tăng lãi suất thêm 0,5% trong quý III/2016, đưa mức lãi suất thị trường mở từ 5% như hiện nay lên 5,5%”, HSBC dự báo.

Thoái vốn nhà nước: Phải loại bỏ “quân xanh, quân đỏ” móc ngoặc, thao túng giá

Với kế hoạch thoái vốn nhà nước đặc biệt là tại 10 doanh nghiệp lớn, ông Bùi Đức Thụ - Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội cho rằng, phương án bán phải được minh bach, công khai và có bên thứ 3 giám sát, ngăn chặn tình trạng thông đồng, bắt tay thao túng giá, trục lợi.

Phải phản ánh hết nghĩa vụ nợ trong giá trị doanh nghiệp

Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về tiến độ thoái vốn nhà nước hiện nay, đặc biệt là với kế hoạch thoái vốn quy mô lớn tại 10 doanh nghiệp lớn vừa mới được Chính phủ thông qua?

Theo đề án của Chính phủ, dự kiến trong năm nay và 2016 sẽ thoái vốn nhà nước tại 10 doanh nghiệp, kế hoạch thu về 40.000 tỷ đồng, trong đó 10.000 tỷ đồng sử dụng để bù đắp cân đối ngân sách năm 2015 do hụt thu ngân sách trung ương.

30.000 tỷ còn lại sẽ bổ sung vào nguồn thu của NSNN năm 2016 sử dụng để đầu tư một số công trình trọng điểm quan trọng có sự lan tỏa lớn.

Ông Bùi Đức Thụ - Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội (ảnh: BD)
Ông Bùi Đức Thụ - Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội (ảnh: BD)
 
Đây là kế hoạch, còn tiến trình thoái vốn như thế nào phải căn cứ vào tình hình thực tiễn. Thực tiễn đặt ra là phải thoái vốn đúng với quy định pháp luật, không để lãng phí, thất thoát, phải đảm bảo được quyền lợi của nhà nước, của doanh nghiệp và người lao động.

Để làm được điều đó, đầu tiên phải đánh giá giá trị tài sản doanh nghiệp cho sát với thị trường, công bố với thị trường lượng vốn mà nhà nước sẽ thoái. Hình thức thực hiện phải giao dịch trên thị trường chứng khoán hoặc đấu giá công khai, không để xảy ra tình trạng thông đồng.

Việc đánh giá tài sản doanh nghiệp cũng phải đánh giá đầy đủ về quyền lợi, nghĩa vụ như nợ phải thu, nợ phải trả, nợ đọng thuế, nợ chưa thanh toán…từ đó có phương án đấu giá phần vốn nhà nước một cách hợp lý.

Kết quả thực hiện kế hoạch này như thế nào còn phụ thuộc vào tín hiệu của thị trường. Mục tiêu trong 2 năm thu được 40.000 tỷ đồng nhưng trong trường hợp vì lý do nào đó khiến tiến độ đấu giá thu được chậm hơn thì có thể ứng từ các nguồn khác, chứ không phải vì kế hoạch đã được Quốc hội duyệt mà phải bán phần vốn nhà nước bằng mọi giá.

Trong thời gian gần đây, do áp lực không được để thất thoát vốn nhà nước nên có một số lãnh đạo doanh nghiệp sợ trách nhiệm. Đây có phải là một trong những lý do lớn ảnh hưởng tới tiến độ thoái vốn không thưa ông?

Đúng là có khả năng sẽ có một số tổ chức/cá nhân nào đó không muốn bán phần vốn này. Điều này liên quan tới việc, khi thực hiện thoái toàn bộ phần vốn nhà nước thì vai trò, trách nhiệm cũng như quyền hạn của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp đó sẽ bị thay đổi.

Trong trường hợp 10 doanh nghiệp này chính là Tổng công ty quản lý vốn tài sản nhà nước (SCIC), song SCIC đã đề nghị Chính phủ cho phép thoái vốn nên tôi cho rằng về phía quản lý nhà nước không có sự cản trở.

Trong quá trình thực hiện bán vốn nhà nước trên thị trường phải cạnh tranh hoàn hảo, nghiêm cấm mọi sự liên kết, thao túng giá, dưới các hình thức; hoạt động bán vốn thông qua giao dịch, đấu giá rộng rãi, công khai thì mức giá là do thị trường quyết định. Còn về phía Nhà nước, khi nguồn cung cổ phần cho thị trường nhiều trong khi sức cầu thị trường ít thì có thể xác định giá sàn, dưới mức đó sẽ không bán.

Tôi cho rằng để đảm bảo một thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì giá là giá cạnh tranh, vấn đề đó không lo gì trách nhiệm cả!

Cân nhắc kỹ việc nới 100% “room” cho nước ngoài

Tuy vậy, trong trường hợp các doanh nghiệp này thoái vốn không hiệu quả thì có thể sẽ để lại những hệ lụy gì thưa ông?

Nếu thoái vốn không hiệu quả thì hệ lụy sẽ làm suy giảm tài chính nhà nước, nguồn thu của nhà nước. Thế nên tôi mới nói là phải đảm bảo bán theo giá thị trường ở điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, không được phép chi phối, thao túng, độc quyền.

Thứ hai về cung cầu, nguồn cổ phiếu nhà nước bán không làm sốc, không làm bội thực thị trường. Hiện tại tôi lo cầu trong nước có hạn, nên phải tính đến cầu quốc tế, tức là có cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua hay không.

Theo quy định hiện tại với từng loại hình công ty, tỷ lệ bán vốn cho nước ngoài được quy định cụ thể, tùy vào ngành nghề lĩnh vực mà “room” có thể cao hay thấp.

Tôi cũng đề nghị Chính phủ và các bộ ngành chức năng căn cứ vào tình hình thị trường, vào yêu cầu quản lý của nhà nước để xác định phần vốn bán bao nhiêu phần trăm, cho phép bán cho nước ngoài với tỉ lệ bao nhiêu để đảm bảo giá hợp lý, phần thu hồi của nhà nước ở mức tối đa.

Ông đánh giá như thế nào về kiến nghị của Vinamilk mới đây khi doanh nghiệp này muốn mở 100% “room” cho nhà đầu tư ngoại?

Nếu mở “room” 100% cho nước ngoài thì với sức cầu lớn, giá cổ phiếu VNM chắc chắn sẽ tăng lên. Tuy nhiên cũng phải tính đến nguy cơ toàn bộ vốn cũng như thương hiệu doanh nghiệp rơi vào tay nước ngoài.

Cho nên tôi cho rằng cũng cần phải cân nhắc, tính toán cho phép nước ngoài nắm giữ bao nhiêu để đảm bảo sự ổn định sau khi nhà nước thoái vốn, không gây xáo trộn lớn. Phải đảm bảo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, thương hiệu được giữ vững, chất lượng hàng hóa tăng và sức cạnh tranh tăng.

Điều này theo ông có thể tạo lên trào lưu hay không?

“Room” ngoại bao nhiêu được quy định bởi pháp luật và thẩm quyền thuộc về cơ quan nhà nước. Phải tính toán cân đối nhiều mặt, trong đó bảo đảm được lợi ích của nhà nước chỉ là trước mắt, còn nhiều yêu cầu khác về mặt kinh tế xã hội.

Với những lĩnh vực mà nhà nước không cần quản lý và cũng không phải trọng yếu với nền kinh tế, cần xã hội hóa và có nguồn lực từ nước ngoài thì có thể mở hết biên độ đến 100% kể cả nước ngoài.

Ông có nói cần lường trước hiện tường thao túng giá, bắt tay ngầm. Trên thực tế, hiện tượng này có phổ biến không?

Điều này phụ thuộc vào cách làm của chúng ta. Cũng như có bài học tại những dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn nhà nước, trái phiếu Chính phủ phải thực hiện theo Luật đấu thầu, nhưng trên thực tế có hiện tượng “thông thầu”.

Hay là chúng ta cũng đã tổ chức đấu giá trong việc mua sắm các thiết bị vật tư kỹ thuật cho các cơ quan nhà nước, cũng đấu giá công khai rộng rãi nhưng trên thực tế vẫn có “quân xanh quân đỏ”, thông thầu, liên kết với nhau.

Do vậy tôi lưu ý phải bán trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, phải đánh giá đầy đủ về tính kế thừa sau khi đấu giá. Việc bán cổ phần phải minh bạch, công khai và nếu cần có thể mới báo chí và bên thứ 3 giám sát. Qua đó có thể ngăn chặn được tình trạng thông thầu, bắt tay nhau liên kết, gìm giá để thao túng.

Thoái vốn khỏi Vinamilk: Người Việt đủ tiền mua sao phải bán cho nước ngoài?

Theo các chuyên gia kinh tế, đề xuất nới tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài lên 100% vô tình loại bỏ quyền lợi của NĐT Việt và người Việt, khác gì câu chuyện đồ ngon, thực phẩm sạch thì xuất khẩu, trong khi người dân trong nước lại tiêu thụ thực phẩm không ngon.

Vinamilk vừa đưa ra đề xuất nâng sở hữu nước ngoài từ doanh nghiệp (DN) này lên 100% thay vì 49% như hiện nay với lý do: ngành sữa không phải là ngành nghề kinh doanh nhạy cảm và không phải là ngành có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia nên cần mở cửa cho NĐT. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia kinh tế, học giả trong nước, điều này không cần thiết và có nhiều rủi ro.


Thị trường và người Việt đủ tiền để mua Vinamilk!?

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành cho rằng: “Ngoài các lý do trên được Vinamilk đưa ra, tôi đoán đề xuất trên của Vinamilk xuất phát từ lý do có thể họ lo sợ khi Nhà nước thoái hết vốn, sẽ không bán được khi  tỷ lệ sở hữu của NĐT ngoại đã chạm trần. Tuy nhiên, tôi tin rằng nhà đầu tư Việt Nam hoàn toàn có thể mua và mua với giá cao nữa. Giờ chỉ chờ Nhà nước, các cơ quan chức năng đưa ra cách thức bán thế nào và yêu cầu ra sao mà thôi”.

Trước đó, ông Lại Văn Đạo, Tổng Giám đốc Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) cho biết: Nếu nhà đầu tư muốn sở hữu 10% cổ phần của Vinamilk, sẽ phải bỏ ra 10.000 tỷ đồng. Theo nhiều chuyên gia, đây cũng là cái khó và 1 phần nào lý do mà Vinamilk có đề xuất mở room 100% cho NĐT ngoại.

“Việc bán 45,1% cổ phần Nhà nước tại Vinamilk, NĐT cần phải có số vốn rất lớn, Vinamilk có quyền lo lắng cổ phần sẽ “ế” hoặc chỉ bán được ít. Trong khi đó, chủ trương thoái vốn, cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước trong kế hoạch 5 năm 2011 – 2015 đã đi đến hồi kết, mục đích sử dụng tiền trong thoái khỏi 10 DN lớn dùng để chi cho đầu tư và 1 phần trả nợ nước ngoài”, ông Thành nhấn mạnh.

Ông Thành cho rằng, đề xuất của Vinamilk sẽ giúp bán tất tay, thu tỷ đô xong ngay nhưng về lâu về dài sẽ có nguy cơ ngành sữa trong nước sẽ bị thôn tính. Tệ nhất là thương hiệu Vinamilk có thể bị xóa sổ.

“Để sở hữu số cổ phần lớn của Vinamilk phải là NĐT đủ lớn, đủ mạnh. Chính vì thế, nếu bán hết cho NĐT ngoại, họ muốn xây mà có lợi thì họ làm, còn muốn phá mà có lợi cho họ, thì họ cũng làm. Các NĐT ngoại, DN ngoại đều hoạt động vì lợi ích kinh tế cả chứ không vì lợi ích của dân tộc và quốc gia Việt Nam đâu”, ông Thành nói rõ thêm.

Dân Việt muốn mua, đủ tiền mua, sao phải bán cho nước ngoài?

Cùng quan điểm với chuyên gia Thành, TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương khẳng định: “Không nhất thiết phải nhà đầu tư ngoại mới chất lượng, giá mới cao. Thị trường chứng khoán Việt Nam không thiếu vốn, không thiếu nhà đầu tư có năng lực và dám mua. Lúc này, hãy quan tâm đến chuyện định giá công khai, minh bạch, cách thức bán  như thế nào để đảm bảo lợi ích lâu dài cho Vinamilk, cho ngành sữa, cho một thương hiệu lớn của quốc gia phát triển.

“Với tài sản lớn, trị giá tỷ đô, chúng ta chưa có kinh nghiệm đâu. Vì vậy, bán một lúc không được đâu, mà phải bán dần dần, từ từ theo lô và nhiều hình thức khác nhau như đấu giá, khớp lệnh trên sàn… tránh giá ảo và bị thâu tóm. Đó là điều cực kỳ quan trọng”, ông Cung khẳng định

Theo các chuyên gia kinh tế, đề xuất nới tỷ lệ sở hữu của NĐT nước ngoài lên 100% vô tình tạo yếu tố thị trường thuần túy loại bỏ quyền lợi của NĐT Việt và người Việt.

“Chủ trương thoái vốn là đúng đắn, nhưng cách làm cần thận trọng có định hướng và tránh nhìn ngắn hạn. Nếu nâng sở hữu 100% cho NĐT, giá cổ phiếu của Vinamilk sẽ rất cao, chỉ các NĐT ngoại mới có tiền để mua và mua được”, ông Thành nhấn mạnh.

Ông Thành nói thêm: “Thoái vốn khỏi 10 DN, trong đó lớn nhất là Vinamilk đang là một miếng “ngon” mà DN, nhà đầu tư và người dân Việt muốn mua, muốn ăn và đủ khả năng để sở hữu sao lại phải đi bán cho nước ngoài? Nới sở hữu NĐT ngoại thêm, khác gì câu chuyện đồ ngon, thực phẩm sạch thì xuất khẩu, trong khi người dân trong nước lại tiêu thụ thực phẩm không ngon”.

Đồng quan điểm đó, theo TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế VN, chúng ta cần phải giữ thương hiệu Vinamilk, nếu không thị trường sữa sẽ bị nước ngoài thao túng và dễ dẫn tới độc quyền.

Tuy nhiên, T.S Nguyễn Trí Hiếu cho rằng: “Không nên quá lo sợ DN ngoại thôn tính hay xóa bỏ thương hiệu khi bán tất cho họ bởi thương hiệu Vinamilk rất mạnh, rất lớn, không dại gì nhà đầu tư nào mua rồi xóa đi để đưa 1 chuỗi sản phẩm, thương hiệu khác vào Việt Nam bởi sẽ mất công làm thị trường và tăng hiện diện đối với người tiêu dùng”.
 
Blogger Templates